Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

Sống tin yêu, phó thác

     Nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa được UNESCO công nhận là “Di sản của nhân loại”


     WHĐ (04.02.2016) – Chiều thứ Ba 02 tháng Hai, UNESCO đã chính thức công nhận Nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa trên bờ sông Jordan là “Di sản của nhân loại” trong một buổi lễ tại Paris.

    Tham gia buổi lễ này có một phái đoàn đến từ Vương quốc Jordan, trong đó có Bộ trưởng Bộ Du lịch Nayef H Al-Fayez và Đức Tổng giám mục Maroun Lahham, Đại diện Toà Thượng phụ Latinh Giêrusalem đặc trách Jordan. Trong bài phát biểu, Đức Tổng giám mục Maroun Lahham gọi nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là “nơi vẫn còn âm vang giọng nói của Chúa Kitô” trong một đất nước Jordan “yên bình và an toàn, giữa lòng một Trung Đông rực lửa”. Ngài ghi nhận: “Tin Mừng đã nói về nơi ấy hai ngàn năm trước, lòng sùng mộ bình dân đã luôn xác quyết, những nghiên cứu khảo cổ học cũng đã minh chứng, bốn vị giáo hoàng đã đến viếng thăm và ngày hôm nay cộng đồng quốc tế đã chính thức công nhận”.

     Đức Tổng giám mục nói thêm: “Từ nay chúng ta có thể lớn tiếng công bố rằng Jordan là Thánh Địa. Thánh Địa gồm chủ yếu là Jerusalem, Bethlehem và Nazareth nhưng về điều đó Jordan cũng không phải là kém thánh thiện hơn”.

(Agenzia Fides)
Minh Đức

      http://hdgmvietnam.org/

     Nơi ông Gioan làm Phép Rửa trên bờ sông Jordan, chính là nơi Đức Giê-su trở về, sau khi Ngài thoát khỏi tay người Do thái đang tìm cách bắt Ngài và ở lại đó. Cũng tại nơi đây nhiều người đến gặp Đức Giê-su và tin vào Ngài.

     Ga 10, 31-42 

    Khi ấy, 31 Người Do-thái lại lấy đá để ném Đức Giê-su. 32 Người bảo họ : "Tôi đã cho các ông thấy nhiều việc tốt đẹp Chúa Cha đã giao cho tôi làm ; vì việc nào mà các ông ném đá tôi ?" 33 Người Do-thái đáp : "Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng : ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa." 34 Đức Giê-su bảo họ : "Trong Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao : "Ta đã phán : các ngươi là những bậc thần thánh'" ? 35 Nếu Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh không thể bị huỷ bỏ, 36 thì tôi là người Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian, làm sao các ông lại bảo tôi : 'Ông nói phạm thượng !' vì tôi đã nói : ' Tôi là Con Thiên Chúa ' ? 37 Nếu tôi không làm các việc của Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi. 38 Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng : Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha." 39 Bấy giờ họ lại tìm cách bắt Người, nhưng Người đã thoát khỏi tay họ.

     40 Đức Giê-su lại ra đi, sang bên kia sông Gio-đan, đến chỗ trước kia ông Gio-an đã làm phép rửa, và Người ở lại đó. 41 Nhiều người đến gặp Đức Giê-su. Họ bảo nhau : "Ông Gio-an đã không làm một dấu lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng." 42 Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giê-su.

(Nhóm Phiên dịch CGKPV)

     Người Do-thái lại lấy đá để ném Đức Giê-su, nhưng thay vì lánh đi như lần trước đó, Ngài đã đối thoại trực tiếp với họ. Ngài đã hỏi họ trong những việc làm tốt đẹp Chúa Cha giao cho Ngài làm, vì việc nào mà họ ném đá Ngài?

     Một lần nữa, người Do thái lại kết tội Đức Giêsu đã nói lời phạm thượng : “Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa.” 

    Ngài đã giải thích cho họ: Ngài chính là Con Thiên Chúa, Ngài được Chúa Cha thánh hiến và sai đến thế gian, Ngài nói những lời đã nghe Cha nói và làm các việc của Chúa Cha. Cha và Ngài gắn bó mật thiết với nhau, hiệp nhất với nhau làm một : “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha”.

    Người Do thái khát khao mong chờ Đấng Cứu Thế đến, nhưng Đức Giêsu đang đứng trước họ lại không đúng với khuôn mẫu họ tưởng tượng, chờ đợi. Đấng Cứu Thế họ mong đợi phải là một người lỗi lạc, siêu vượt, là con cháu vua Đavit; đến trong sự oai phong lẫm liệt, cứu giúp họ về vật chất, cứu họ bằng quyền lực, giúp họ phục hồi lại một đế quốc Israel hùng cường… 

    Đức Giêsu ra sức giải thích, thuyết phục, nhưng Người Do thái vẫn cứng lòng, không tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu thế. Ngài càng giải thích, họ lại càng tìm cách bắt Ngài.

    Giờ của Ngài vẫn chưa đến, Ngài đã thoát khỏi tay họ và trở về vùng bên kia sông Gio-đan, nơi trước kia ông Gio-an đã làm phép rửa và một niềm an ủi lớn lao đến với Con Thiên Chúa: nhiều người đến gặp và đã tin vào Ngài.

    Giống như người Do thái xưa, nhiều khi chúng ta khi cầu nguyện với Đấng Hằng Hữu, xin Ngài ban cho điều này điều nọ và nài xin Ngài ban ơn cho ta theo ý ta cầu xin. Khi chưa được hay không được ơn như ý muốn, chúng ta thất vọng, chao đảo niềm tin…

     Lạy Chúa Giêsu, Chúa luôn tìm kiếm và thi hành trọn vẹn Thánh ý Chúa Cha. Xin cho chúng con cũng luôn biết sống đẹp lòng Chúa Cha và phó thác trọn vẹn đời mình cho sự quan phòng của Chúa. Amen.

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Nói điều phải nói và làm điều phải làm

     Chiều 6/10/2014, Việt, Hiếu và Trung đi xe máy đến đường Nguyễn Viết Xuân (Hà Đông) thì gặp Nguyễn Đức Mạnh. Do nghi ngờ Mạnh lấy trộm tiền của mình nên Trung đã đánh vào mặt nạn nhân.

Hồ nước nơi nạn nhân bị ném chết. 
      Mạnh sau đó đã bỏ chạy còn Trung, Việt, Hiếu quay về nhà Cường lấy dao và rủ Cường cùng đi tìm đánh Mạnh. 

      Khi nhóm đối tượng trên đến bờ hồ sinh thái gần Bệnh viện Đa khoa Hà Đông thì gặp lại Mạnh đang đứng cùng hai cô gái ở đó. Trung, Việt, Cường liền đuổi đánh anh Mạnh. 

      Thấy nhóm truy sát cầm dao xông tới, Mạnh hoảng sợ nên nhảy xuống hồ mong thoát thân. Nhưng do nước sâu, Mạnh lại không biết bơi nên nạn nhân chới với dưới hồ nước. Mặc dù vậy, nhóm của Trung vẫn không buông tha. Chúng đứng trên bờ ném gạch, đá xuống hồ cho tới khi Mạnh chìm hẳn mới bỏ đi. 

      Theo cơ quan điều tra, nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của Nguyễn Đức Mạnh là do nạn nhân bị trúng một viên gạch vào đầu, dẫn đến vỡ hộp sọ. 

http://vtc.vn/ban-choi-voi-duoi-ho-nem-da-cho-chet-han-di-tu-cung-khong-hoi-han.7.510636.htm 

     Bị bị truy sát vì nghi ngờ ăn trộm tiền của bạn, hoảng sợ anh Mạnh đã nhảy xuống hồ mong thoát thân, chới với dưới hồ nước, anh bị ném gạch đá cho chết. Người Do thái xưa đã dùng hình phạt ném đá đến chết những người bị họ kết án phạm thượng, phạm tội ngoại tình… Vì sao Đức Giêsu bị họ ném đá ? 

     Ga 8, 51-59 

     Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do thái rằng: 51 Thật, tôi bảo thật các ông : ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết." 

     52 Người Do-thái liền nói : "Bây giờ, chúng tôi biết chắc là ông bị quỷ ám. Ông Áp-ra-ham đã chết, các ngôn sứ cũng vậy ; thế mà ông lại nói : "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ phải chết.' 

      53 Chẳng lẽ ông lại cao trọng hơn cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham sao ? Người đã chết, các ngôn sứ cũng đã chết. Ông tự coi mình là ai ?" 54 Đức Giê-su đáp : "Nếu tôi tôn vinh chính mình, vinh quang của tôi chẳng là gì cả. Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông. 55 Các ông không biết Người ; còn tôi, tôi biết Người. Nếu tôi nói là tôi không biết Người, thì tôi cũng là kẻ nói dối như các ông. Nhưng tôi biết Người và giữ lời Người. 56 Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ." 

     57 Người Do-thái nói : "Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Áp-ra-ham !" 58 Đức Giê-su đáp : "Thật, tôi bảo thật các ông : trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu !" 

     59 Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ. 

(Nhóm Phiên dịch CGKPV) 

     Những người Do thái lượm đá ném Đức Giêsu khi Ngài nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: trước khi có ông Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu!” 

     Ném đá là hình phạt của người Do thái chủ yếu dành cho kẻ phạm thượng. Đức Giêsu đã làm gì để bị coi là mắc tội phạm thượng, nghĩa là tội coi thường quyền tối thượng của Thiên Chúa? 

     Đối với người Do thái khi ấy và với cả chúng ta hôm nay, thật khó tin khi thấy một người chưa tới năm mươi tuổi, lại tuyên bố mình có trước Abraham, là người đã sống trước mình gần hai ngàn năm. 

     Khó tin nhưng vẫn có thể tin, nếu không cứng lòng, khi đã nghe Đức Giêsu giảng dạy và chứng kiến các phép lạ Ngài làm. Chính người Do thái đã từng “kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền” (Mc 1,22); cũng chính họ đã đem đến với Ngài tất cả những người đau yếu, mắc đủ thứ bệnh hoạn, những người bị quỷ ám để được Ngài chữa lành (x Lc 4, 40-41)… 

     Đức Giêsu không phạm thượng, vì Ngài chẳng tự tôn vinh mình, Ngài cũng chẳng coi thường Thiên Chúa bao giờ. Ngài luôn xác định mình là con, là người được Cha sai đi. Ngài triệt để vâng phục Thiên Chúa Cha, Ngài chỉ nói điều Ngài nghe Cha nói (Ga 8,26) và chỉ làm điều Ngài thấy Cha làm (Ga 5,19). Ngài đòi những ai muốn sống đời đời phải tuân giữ lời Ngài vì đó chính là Lời của Thiên Chúa Cha, Đấng Hằng Hữu. 

      Khi nói với người Do thái: “Trước khi có Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu”, Đức Giêsu đã mặc khải cho nhân loại: Ngài là một với Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa (Ga 1, 14-18), trước khi được sinh ra đời làm người, Ngài đã hiện hữu rồi. Bởi đó, Ngài là Đấng có trước ông Abrahamm. 

      Dù bị chống đối, bị đe dọa giết chết, Đức Giêsu vẫn cương trực nói điều phải nói và làm điều phải làm. Ngài lánh đi và ra khỏi Đền Thờ khi bị ném đá, vì giờ của Ngài chưa đến. 

      Lạy Chúa, Chúa sai chúng con đi loan báo Tin Mừng cho hết mọi loài thụ tạo. Xin cho chúng con biết tận dụng hết những khả năng Chúa ban để giới thiệu Chúa cho anh em chúng con và xin cho chúng con có được sự can đảm, sự cương trực như Chúa, khi phải làm chứng cho Người.

Tự do và nô lệ

     12 Years A Slave (12 năm nô lệ), nguyên tác của bộ phim cùng tên đoạt giải lớn tại LHP Toronto năm nay, là cuốn sách có giá trị lịch sử và cá nhân nhưng lại không được biết đến trong suốt gần một thế kỷ qua.


    12 năm nô lệ là hồi ký của Solomon Northup, một nông dân tự do ở New York bị bắt cóc vào năm 1841 và bị ép làm nô lệ trong vòng 12 năm.

     Cùng thời với Túp lều bác Tôm và 100 năm quên lãng

     Cuốn 12 năm nô lệ phát hành năm 1853, chỉ một năm sau cuốn Uncle Tom's Cabin (Túp lều bác Tôm) của Harriet Beecher Stowe. 12 năm nô lệ bán được 30.000 bản, được coi là bán chạy.

     Khi mới phát hành, cuốn sách được coi là quả bom ném thẳng vào cuộc tranh luận quy mô quốc gia về chế độ nô lệ, một trong những lý do dẫn đến cuộc nội chiến Mỹ và khiến dư luận nghiêng về ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ.

    Sau đó, trong thế kỷ 19, sách ra thêm vài phiên bản nữa rồi ngưng hẳn. Cuốn sách bị lãng quên trong vòng gần 100 năm, cho đến năm 1968 mới được sử gia tìm thấy và phát hành trở lại.

    Cuốn sách có một tiêu đề đơn giản tưởng như khái quái được tất cả nội dung, nhưng điều khiến 12 năm nô lệ là một cuốn sách khó quên nằm ở những chi tiết rất cụ thể và nghiệt ngã.

Solomon Northup
    Solomon Northup buộc độc giả phải nhìn thẳng vào quãng đời nô lệ bắt buộc của ông: Những trải nghiệm bị áp bức kinh hoàng, sự đảo lộn vai trò nghiệt ngã khi ông bị ép phải trừng phạt các nô lệ khác, và cuối cùng, cái giá của tự do.

    Một cốt truyện khái quát luôn là thứ dễ kể, nhưng những tác phẩm chân thực khiến người đọc rùng mình vì các chi tiết. Northup làm tất cả để thể hiện rõ mục tiêu của mình: Cung cấp một bức tranh đầy đủ về cuộc sống của một nô lệ, thu thập nhiều tài liệu gốc để tránh mọi hiểu lầm.

    "Cho đến lúc đó cuộc đời tôi không có gì bất thường - không có gì ngoài những hy vọng bình thường, tình yêu, lao động như một người đàn ông da màu tầm thường và góp những đóng góp khiêm tốn của mình cho thế giới" - Northup kể về giai đoạn trước khi bị bắt làm nô lệ.

     Lúc đó là tháng 3/1841, trước khi bước ngoặt cuộc đời ông ập đến.

     Nên được đặt ngang tầm với Nhật ký Anne Frank

     Cuốn sách được chính đạo diễn của bộ phim chuyển thể là Steve McQueen (cũng là một người da đen) khuyên công chúng nên tìm đọc.

      Theo đạo diễn, 12 Years A Slave nên được trân trọng như cuốn sách nổi tiếng The Diary Of Anne Frank (Nhật ký Anne Frank - hồi ký của một cô gái Do Thái thời Đức Quốc xã) và nên được đưa vào chương trình giáo khoa của Mỹ.

     "Đây là một Anne Frank khác, nhưng ra đời trước 100 năm. Tại sao tôi lại không biết về nó sớm hơn?" – đạo diễn McQueen hồi tưởng lại khi mới đọc cuốn sách. "Sau đó tôi phát hiện ra là rất hiếm người biết đến cuốn sách. Thực ra, tất cả những ai tôi hỏi đều không biết đến sự tồn tại của nó. Vì thế tôi quyết định sẽ làm phim".


     Qua câu chuyện của Solomon Northup, chúng ta thấy, dù được hưởng sự tự do, nhưng chúng ta vẫn có thể tự buộc mình trong vòng nô lệ của đồng tiền, của danh vọng địa vị, của thói tham lam độc đoán, của sự sợ hãi… Đó chính là "tội" mà Đức Giêsu nói với người Do thái: “Hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội”. 

    Ga 8, 31-42

   31 Vậy, Đức Giê-su nói với những người Do-thái đã tin Người : "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi ; 32 các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông." 33 Họ đáp : "Chúng tôi là dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói : các ông sẽ được tự do ?" 34 Đức Giê-su trả lời : "Thật, tôi bảo thật các ông : hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. 35 Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. 36 Vậy, nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do. 37 Tôi biết các ông là dòng dõi ông Áp-ra-ham, nhưng các ông tìm cách giết tôi, vì lời tôi không thấm vào lòng các ông. 38 Phần tôi, tôi nói những điều đã thấy nơi Cha tôi ; còn các ông, các ông làm những gì đã nghe cha các ông nói." 39 Họ đáp : "Cha chúng tôi là ông Áp-ra-ham." Đức Giê-su nói : "Giả như các ông là con cái ông Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm. 40 Thế mà bây giờ các ông lại tìm giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm. 41 Còn các ông, các ông làm những việc cha các ông làm." 

    Họ mới nói : "Chúng tôi đâu phải là con hoang. Chúng tôi chỉ có một Cha: đó là Thiên Chúa !" 42 Đức Giê-su bảo họ : "Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi. 43 Tại sao các ông không hiểu lối nói của tôi ? Là vì các ông không thể nghe lời tôi.

(Nhóm Phiên dịch CGKPV)

     Khi Đức Giêsu nói với người Do thái đã tin Ngài: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông”.

    Họ tin Ngài, nhưng họ tỏ ra rất tự phụ khi đáp lại: “Chúng tôi là dòng dõi ông Ápraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ”. Có lẽ họ luôn nghĩ mình thuộc dòng giống được được tuyển chọn, là dân riêng của Thiên Chúa nên họ có quyền đứng trên kẻ khác, không lệ thuộc bất cứ ai. 

    Đức Giêsu đã nói cho họ biết rằng: “Hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội”, con người chỉ thực sự là những người tự do khi được Con Thiên Chúa giải phóng khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự dữ.

   Đức Giêsu tiếp tục vạch trần sự giả tạo nơi người Do thái khi họ dựa vào tổ phụ Apraham, tự hào là con ông Ápraham, nhưng lại hành động ngược lại với những gì ông Apraham đã làm, khi họ tìm cách giết người đã nói cho họ nghe biết sự thật đã nghe biết từ Thiên Chúa. Có vẻ đuối lý, họ lại xưng mình là Con Thiên Chúa. Họ gọi Thiên Chúa là Cha, nhưng họ lại đang tìm cách loại trừ chính Con Thiên Chúa đang ở giữa họ!

    Ngày nay, con người vẫn tưởng mình sống tự do, nhưng vẫn buộc mình trong nô lệ. Nô lệ của đồng tiền, của danh vọng địa vị, của thói tham lam độc đoán, của sự sợ hãi…

   Nhiều người tự xưng là Kitô hữu, là đạo gốc, nhưng những hành vi của họ trong cuộc sống lại ngược với những gì họ tự hào và tuyên xưng. Sở dĩ như vậy vì họ đã không để cho Lời Chúa thấm nhập vào trong tâm hồn, lòng họ xa Chúa, họ chỉ kính thờ Người bằng môi miệng.

   Tôi là người tin Chúa nhưng tôi có phải là môn đệ của Đức Giêsu như Ngài muốn không?

   Lạy Chúa, xin gìn giữ chúng con trong Lời Chúa để chúng con luôn biết thắng vượt tội lỗi. Xin giải thoát chúng con khỏi tất cả mọi ràng buộc hay lệ thuộc ngoài Chúa, để chúng con được ở trong nhà Chúa muôn đời. Amen.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Hãy nhìn lên để được cứu

     Biểu tượng con rắn quấn quanh cây gậy và con rắn quấn quanh cái ly rất quen thuộc với nhiều người, nhưng nguồn gốc của các biểu tượng này là điều không phải ai cũng biết.

    Nhiều người sẽ không khỏi thắc mắc là tại sao biểu tượng trong ngành Y - Dược lại là con rắn mà không phải là một con gì hay vật gì khác. Khi thì thấy hai con, khi thì một con quấn quanh một cây gậy; có khi thì cái ly hay cốc (hay gặp trong ngành Dược).

   
Thần Esculape - ông tổ của ngành Y Dược
Theo thần thoại Hy Lạp, một lần, thần Esculape đến thăm một người bạn bị bệnh, ông trông thấy một con rắn độc đang bò vào nhà và đã đánh chết nó. Ngay sau đó, một con rắn khác lại tiến vào và trên miệng ngậm một lá cỏ đến mớm cho đồng loại vừa mới bị đánh chết. Kỳ lạ thay, con rắn chết bỗng hồi sinh. Esculape tình cờ biết được thứ cỏ lạ đấy, nghiên cứu và tìm hiểu thêm, từ đó trở thành một thần y chữa bệnh cứu sống rất nhiều người.

    Trên thiên đình, thần vương Jupiter thấy thế, sợ tài năng của Esculape sẽ làm cho loài người thoát khỏi luật sinh tử, nên đã sai độc nhãn quỷ Cyclope tạo ra sét và đánh chết vị y sư. Cũng nhờ có cha là thần Apollon xin, nên được thần vương Jupiter cho lên ở lại chùm sao Nhân Mã (Sagittaire
…. Từ đó, Esculape được tôn vinh như vị thần y khoa, và thường lấy hình ảnh hai con rắn quấn quanh cái gậy của người làm biểu tượng cho ngành y. Ngày nay, tại thành phố cổ Epidaure vẫn còn di tích ngôi đền thờ thần Esculape.

    Sử cổ La Mã chép truyện về Andro Machus, y sư của Catus Claudius, một vị tướng nổi tiếng thành Rome. Ông đã tìm ra thuốc trị rắn cắn bằng chính nọc độc của chúng, nhờ đó quân La Mã thoát chết bởi đoàn rắn độc của tướng Hung nô Annibal.

    Năm 290 trước công nguyên, La Mã bị dịch, người bệnh phải dâng ly rượu cúng thần Esculape mong tai qua nạn khỏi. Vì thế, về sau người ta vẽ thêm một cái ly bên cạnh con rắn, biểu tượng cho ngành dược.

    Đối với Tây y, rắn chiếm vị trí khiêm nhường trong số khổng lồ các phương thuốc trị liệu nhưng lại có vinh dự trở thành biểu tượng có tính chất truyền thống của cả ngành Y và ngành Dược. Biểu tượng ngành Y là hình con rắn quấn quanh cây gậy. Còn biểu tượng ngành Dược là con rắn có đuôi quấn quanh chân một cái ly đựng thuốc và thân của nó vòng qua miệng ly để đầu chúi xuống, thả lưỡi nếm thuốc. Biểu tượng ngành Dược thường gọi nhiều tên như: “Cái ly con rắn”, “Cái cốc con rắn” hoặc “Chén thuốc Hygeia”.

    Kể từ năm 1796, chén thuốc Hygeia được Pháp chính thức xem là biểu tượng ngành Dược và Hiệp hội Dược học Paris đã phát hành biểu tượng được đúc bằng đồng hình cái ly và con rắn. Khi Pháp xâm chiếm và phổ biến nền Y - Dược phương Tây vào đất nước ta nên mặc nhiên chúng ta cũng thừa nhận biểu tượng ngành Dược này của Pháp.

     Các nhà thuốc tây ở ta trước đây luôn treo bảng hiệu có dấu thập xanh lá cây và hình cái ly con rắn. Còn ở Mỹ, Hội Dược sĩ Hoa Kỳ (APhA) chính thức công nhận chén thuốc Hygeia là biểu tượng ngành Dược từ năm 1964.

      Ngoài biểu tượng con rắn và cây gậy của Asclepius, nhiều khi một y hiệu có hai con rắn cuốn một cây gậy, và hai bên có đôi cánh cũng được dùng làm biểu hiệu cho ngành y hay y sĩ. Biểu tượng có hai con rắn cuốn trên một cây gậy có cánh thường được gọi là Caduceus. Chữ Caduceus gốc Hy Lạp có nghĩa là "Đũa thần của sứ giả". Ngành Quân Y của Mỹ dùng biểu tượng này từ năm 1856 làm biểu tượng riêng của họ, khác với biểu tượng chính thức của ngành Y từ trước đó với một con rắn quấn trên một cây gậy

L.Trang (tổng hợp)
http://petrotimes.vn/vi-sao-ran-duoc-chon-lam-bieu-tuong-cho-nganh-y-duoc-91177.html

      Trong kinh thánh, con rắn cũng là biểu tượng của sự chữa lành (Ds 21, 4b-9) Và Đức Giêsu đã dùng hình ảnh này để nói về ý nghĩa cái chết của Ngài trên Thập tự giá.

       Ga 8, 21-30

      21 Đức Giê-su lại nói với họ : "Tôi ra đi, các ông sẽ tìm tôi, và các ông sẽ mang tội mình mà chết. Nơi tôi đi, các ông không thể đến được." 22 Người Do-thái mới nói: "Ông ấy sẽ tự tử hay sao mà lại nói : ' Nơi tôi đi, các ông không thể đến được ' ?" 23 Người bảo họ : "Các ông bởi hạ giới ; còn tôi, tôi bởi thượng giới. Các ông thuộc về thế gian này ; còn tôi, tôi không thuộc về thế gian này. 24 Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết. Thật vậy, nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết." 25 Họ liền hỏi Người : "Ông là ai ?" Đức Giê-su đáp : "Hoàn toàn đúng như tôi vừa nói với các ông đó. 26 Tôi còn có nhiều điều phải nói và xét đoán về các ông. Nhưng Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật ; còn tôi, tôi nói lại cho thế gian những điều tôi đã nghe Người nói." 27 Họ không hiểu là Đức Giê-su nói với họ về Chúa Cha. 28 Người bảo họ : "Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy. 29 Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi ; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người." 30 Khi Đức Giê-su nói thế, thì có nhiều kẻ tin vào Người.

(Nhóm Phiên dịch CGKPV) 

      Khi xưa, trong sa mạc, dân Israel kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê. Thiên Chúa cho rắn độc ra cắn họ, khiến nhiều người phải chết. Dân chúng xin ông Môsê khẩn cầu Thiên Chúa. Thiên Chúa truyền cho ông làm một con rắn bằng đồng và treo lên để ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống (Ds 21, 4b-9).

     Đức Giêsu chính là Đấng mà con rắn đồng là hình ảnh tiên báo, như Ngài đã nói: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3, 14). 

     Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài nói: "Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28).

     Thực hiện chương trình cứu độ trần gian, vâng theo Thánh ý Chúa Cha, Đức Giêsu chấp nhận được giương cao trên Thập tự giá, làm giá cứu chuộc muôn người. Thập giá giương cao Con Thiên Chúa trở thành Thánh Giá với sức mạnh phi thường: “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 32). 

    Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy biết nhìn lên Thánh giá, tin vào Đấng Hằng Hữu để được sống.

     Hãy nhìn lên Thánh Giá để cảm nhận được những đau khổ Đức Giêsu đã chịu vì chúng ta. Nhìn lên Thánh Giá để cảm nhận được tình yêu thương Chúa dành cho chúng ta. Nhìn lên Thánh Giá để thấy tội lỗi của mình, để xin Chúa chữa lành những vết thương trong lòng và đưa chúng ta trở về với Cha. 

    Nhìn lên Thánh giá, cảm nhận tình Chúa yêu thương, chúng ta an tâm trở về với Chúa là Cha, người Cha nhân hậu luôn chờ đợi, sẵn sàng đón nhận và tha thứ tội lỗi cho những đứa con hoang đàng, sám hối trở về. 

    Nhìn lên Thánh giá, để được Đấng Hằng Hữu nâng lên với Ngài. Ánh sáng từ Thánh giá chiếu toả sẽ giải thoát chúng ta khỏi bóng tối tội lỗi, đưa chúng ta trở về làm con cái Thiên Chúa Sự Sáng và chúng ta sẽ được hưởng ơn cứu độ của Chúa.

    Mỗi khi gặp khó khăn, đau khổ trong cuộc sống chúng ta hãy biết nhìn lên Thánh Giá để được an ủi, chữa lành. Trong mùa Chay, đặc biệt trong những ngày Tuần Thánh, ta hãy năng chiêm ngắm Thánh giá, để Chúa nâng tâm hồn ta lên với Ngài.

     Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết nhìn lên Thánh Giá Chúa để thấy tội trần gian, thấy tội của chính chúng con và xin cho chúng con luôn biết nhìn lên Thánh Giá để cầu xin ơn tha thứ và chữa lành cho tâm hồn chúng con. Amen.

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Can đảm làm chứng cho sự thật

     Bị khởi tố từ tháng 5-1998, ông Huỳnh Văn Nén đã bị tạm giam hơn 17 năm. Ngày 23-10-2015 vừa qua, ông được Viện KSND tỉnh Bình Thuận cho tại ngoại và đến ngày 28-11-2015, ông chính thức nhận được quyết định đình chỉ điều tra.


     Sáng 28-11, sau khi đọc quyết định đình chỉ điều tra ông Huỳnh Văn Nén, đại tá Phạm Thật - phó giám đốc, thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận cũng trao kết luận do chính ông ký ngày 27-11 về vụ án giết bà Lê Thị Bông mà ông Nén bị buộc tội giết người, cướp tài sản.

     Đại tá Phạm Thật khẳng định sau khi điều tra lại, công an đã kết luận không đủ cơ sở buộc tội ông Nén trong vụ án mạng này.

     Tình tiết đáng chú ý trong kết luận này là trong quá trình điều tra lại, ông Nén khai bị điều tra viên Cao Văn Hùng mớm cung, nhục hình nên mới khai nhận giết bà Lê Thị Bông, thực sự ông Nén không giết bà Bông và cũng không biết gì về vụ án mạng này.

     Theo kết luận điều tra, giữa lời khai nhận tội của ông Nén và các tình tiết trong vụ án có nhiều mâu thuẫn. Vị trí giết bà Bông ông Nén khai không thống nhất, cách thức giết bà Bông có nhiều điểm mâu thuẫn.

     Về tài sản của bà Bông, ông Nén khi thì khai hoảng sợ bỏ chạy không lấy gì, lúc khác lại khai có lấy được nhẫn vàng.

     Tại hiện trường, ở mặt ghế sa lon bọc da tại nhà chính phát hiện 3 dấu chân không dép có kích thước 22x8,5cm và gót rộng 4cm; cách phía hiên nhà chính hướng tây nam 1,5m có dấu do bàn chân phải để lại in hằn trên cát và có kích thước 23x9cm, gót rộng 4,5cm.

     Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận xác định không đủ yếu tố đặc điểm riêng để truy nguyên đường vân nên Cơ quan CSĐT không tiến hành trưng cầu giám định đường vân. Do vậy không đủ cơ sở kết luận bàn chân của đối tượng.

     Nhiều tình tiết khác về lời khai của nhân chứng, việc tự khai thời gian của ông Huỳnh Văn Nén trước, trong và sau khi giết bà Bông cũng có nhiều mâu thuẫn.

     Quá trình điều tra lại, ông Nén khai bị mớm cung, bức cung nên không thể điều tra để làm rõ những mâu thuẫn trên.

http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20151128/vi-sao-17-nam-ong-huynh-van-nen-chiu-noi-oan-giet-nguoi/1011175.html

     Chưa rõ ông Nén bị kết oán oan vì bịnh thành tích, vì sự cẩu thả, thiếu trách nhiệm của những người có nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử ông hay còn một lý do nào khác nữa? Dù thế nào, án oan này cũng làm chúng ta cảm nhận sâu hơn án oan Con Thiên Chúa vì tội lỗi chúng ta phải chịu!.

     Ga 7, 40-53

    40 Trong dân chúng, có những người nghe các lời ấy thì nói : "Ông này thật là vị ngôn sứ." 41 Kẻ khác rằng : "Ông này là Đấng Ki-tô." Nhưng có kẻ lại nói : "Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? 42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?" 43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.
   45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng: "Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây ?" 46 Các vệ binh trả lời : "Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !" 47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng : "Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !" 50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51 "Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?" 52 Họ đáp : "Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả."
   53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình.
(Nhóm Phiên dịch CGKPV) 

     Trong số những người đang nghe Đức Giêsu giảng tại Đền thờ Giêrusalem, có một số người tin Ngài là Vị Ngôn sứ được ông Môsê tiên báo, có người cho Ngài là Đấng Kitô nhưng có nhiều người không đồng ý như thế, vì với họ Đức Giêsu xuất thân từ Galilê, còn Đấng Kitô thì phải xuất thân từ Bêlem, quê của vua Đavít. 

    Các thượng tế và người Pharisêu đã sai các vệ binh đi bắt Đức Giêsu, nhưng những người này đã không tuân lệnh, họ dám nói lên sự thật: “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy”. Các vệ binh đã can đảm làm chứng cho sự thật mà họ đã nhận được từ Đức Giêsu, họ chấp nhận bị sỉ nhục : “bị mê hoặc, là dân đen, quân bị nguyền rủa, là thứ người không biết Lề Luật”...

    Một sự an ủi lớn lao cho Con Thiên Chúa làm người, khi trong số các thủ lãnh có một người tên Nicôđêmô, một thành viên Thượng Hội đồng tối cao Do thái, là bậc thầy trong dân, trước đó đã đến gặp Ngài ban đêm, nay dám lên tiếng bênh vực Ngài. Ông đã trưng dẫn Lề Luật để biện hộ cho Ngài.

    Tiếc rằng tiếng nói của ông Nicôđêmô đã không được người Pharisêu nghe theo. Bất chấp địa vị của ông, họ chế nhạo ông: “Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao?” 

    Tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế là một ơn huệ Thiên Chúa ban. Nhưng muốn nhận được ơn huệ này, bạn phải mở lòng mình ra và sẵn lòng đón nhận như những người vệ binh; đừng cứng lòng, cũng đừng tự mãn là ‘thông luật” như những thượng tế và người Pharisêu xưa.

     Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con xác tín Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con can đảm, sẵn sàng làm chứng cho Ngài, cho dù vì thế chúng con phải chịu thiệt thòi, bị chế giễu, bị “trù dập”. Amen.

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Biết đúng nhưng không biết đầy đủ

     Sukkot (Lễ Lều tạm) tưởng nhớ việc con cái Israel đã phải mất 40 năm đi qua sa mạc để trở về miền Đất Hứa. Lễ này kỷ niệm việc dựng các lều tạm (sukkah) khi dân Israel lưu đày trên đất Ai Cập. Lễ này trùng với mùa thu hoạch hoa quả và đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ trồng cấy. Người Do Thái khắp nơi trên thế giới ăn ở trong sukkah trong 7 ngày 7 đêm. Lễ Lều tạm kết thúc bằng lễ Shemini Atzeret (lễ người Do Thái cầu mưa) và lễ Simchat Torah là lễ đánh dấu sự kết thúc của sách Torah (còn gọi là Ngũ thư Kinh thánh hoặc Ngũ kinh Moses) và bắt đầu một chu kỳ sách mới. 

     Một số hình ảnh về Lễ lều tạm của người Do Thái ngày nay:
 

Một cô bé theo Đạo Do Thánh chính thống bước trên những cành lá cọ được sử dụng để dựng lều tạm ở khu vực Mea Shearim gần Thánh địa Jerusalem, 06/10/2011. Các cành lá cọ sẽ được dùng để làm mái cho những căn lều tạm được gọi là Sukkah.


Một người đàn ông theo đạo Do Thái chính thống bước qua những căn lều tạm (sukkah) được dựng lên trong dịp Lễ Sukkot, ở Mea Shearim, Jerusalem, 10/10/2011.


Một người đàn ông Do Thái đang xây dựng căn lều Sukkah ở Mea Shearim, Jerusalem, 10/10/2011.


Một cậu bé ngồi chơi bên ngoài căn lều tạm ở Mea Shearim, 10/10/2011
Xem bài đầy đủ dịch từ Boston.com tại:
https://tinhte.vn/threads/the-big-picture-le-sukkot-cua-nguoi-do-thai.903103/

     Vì người Do-thái đang tìm giết mình, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Các anh cứ lên dự lễ đi; còn tôi, tôi không lên dự lễ này, vì thời của tôi chưa chín muồi" (Ga 7,8b-9). Tuy nhiên, khi các môn đệ đã lên dự lễ, Đức Giêsu cũng lên Giêrusalem dự lễ Lều.

     Ga 7, 1-2.10.25-30
     
     7 1 Sau đó, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.
     2 Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 10 Tuy nhiên, khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.
     25 Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói : "Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ? 26 Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả." 28 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : "Các ông biết tôi ư ? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi."
     30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.

     Luật Do thái buộc phải hành hương mỗi năm ba lần: Lễ Vượt qua, Lễ Ngũ tuần và Lễ Lều (x.Xh 23, 14-17; 34, 22-23; Dnl 16, 16) hay là Lễ Bánh Không Men, lễ Mùa Gặt, Lễ Thu hoạch cuối năm. Lễ bánh không men nhắc lại biến cố Xuất hành. Lễ Mùa gặt để dâng của đầu mùa cho Giavê. Lễ Thu hoạch để tạ ơn Giavê .
(http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/MucVu/linhdao.html). 

     Đức Giêsu tuân giữ luật buộc này. Ngài biết rõ lên Đền thờ Giêrusalem trong thời điểm này rất nguy hiểm, vì giới lãnh đạo Do thái giáo đang tìm cách giết Ngài, nên Ngài đã chọn giải pháp lên Đền thờ một cách kín đáo. 

     Nhưng biết giờ của Ngài chưa đến, Đức Giêsu đã bình tĩnh giảng dạy công khai trong Đền thờ, trước những thượng tế, những người Pharisêu và dân cư ngụ ở Giêrusalem. 

      Những người ở Giêrusalem không có thiện cảm với Ngài, họ nói như thách thức những người có trách nhiệm: Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Ðấng Kitô? Những người này tin vững chắc rằng: “Khi Đấng Kitô đến, chẳng ai biết Người đến từ đâu”.

     Họ không tin Đức Giêsu là Kitô, bởi “biết rõ”: Đức Giêsu là dân vùng Nazareth, làm nghề thợ mộc, sống với cha mẹ là Giuse và Maria. Họ biết đúng về nguồn gốc trần thế của Ngài. Tiếc rằng họ quá tự hào về cái biết đúng, nhưng không đủ của mình!

    Khi Đức Giêsu đã nói cho biết về nguồn gốc thần linh của Ngài, về Đấng đã sai Ngài, nhưng vì cố chấp họ không nghe, không tin và tìm cách bắt giết Ngài.

     Làm sao tôi có thể nhận ra Đức Kitô cao cả đang ở bên những người tầm thường tôi gặp mỗi ngày ? 

      Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết sống khiêm hạ, đừng bao giờ tự hào về những hiểu biết của mình và coi khinh những người nghèo khó, khổ đau. 
     Xin cho chúng con luôn ghi nhớ và thực thi lời Chúa dạy: “Những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40)

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2016

Những lời chứng chân thật

     Mới đây, Tom Stephens – chàng trai 23 tuổi mang trong mình căn bệnh bại não đã chính thức được nhận vào vị trí thu ngân tại một siêu thị ở Altrincham (Greater Manchester, Anh) sau 5 năm ròng rã đi xin việc và từng muối mặt vì bị từ chối tới 950 lần.


     Được biết trong suốt 5 năm qua, cứ trung bình mỗi tuần Tom lại gửi đi 2 lá đơn xin việc. Số lần anh này tìm đến các trung tâm môi giới việc làm cũng không đếm xuể. Thế nhưng anh chỉ được hồi âm vỏn vẹn 50 lần, được hẹn phỏng vấn đúng 12 lần và đều bị từ chối vì “không đủ kinh nghiệm”. 

     Tom có tới 5 bằng GCSE và một bằng BTEC trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhưng các công ty vẫn lo ngại rằng do anh mắc bệnh bại não nên không thể làm việc bình thường.

     Tom chủ yếu nộp đơn xin việc vào các vị trí như chăm sóc khách hàng và dịch vụ bán lẻ. Anh cũng khẳng định căn bệnh bại não chỉ khiến anh khó khăn trong việc vận động cơ chứ không ảnh hưởng đến khả năng làm việc của mình.

     Những cái lắc đầu từ chối đã khiến Tom càng thêm quyết tâm và khao khát có một công việc ổn định. Và mơ ước ấy đã trở thành hiện thực khi mới đây, Tom chính thức được nhận vào vị trí thu ngân tại một siêu thị.

     Hiện Tom đang làm việc bán thời gian, 2 buổi/tuần. Trong thời gian rảnh, Tom thường đến các trung tâm để trau dồi kĩ năng làm việc của mình.

http://www.tienphong.vn/Gioi-Tre/chang-trai-5-nam-kien-tri-xin-viec-du-bi-tu-choi-950-lan-948565.tpo

     Mang trong mình căn bịnh bại não, kiên trì học tập, có nhiều bằng cấp nhưng ròng rã 5 suốt năm, Tom mới xin được một việc làm bán thời gian vì người ta cho rằng anh không thể làm tốt công việc. Câu chuyện này phần nào giúp ta hiểu nỗi khổ của Đức Kitô, khi người ta không tin Ngài là con Thiên Chúa, được Chúa Cha sai xuống thế làm người để thực hiện chương trình cứu độ loài người.

     Ga 5, 31-47

     Khi ấy, Chúa Giêsu nói với người Do thái rằng: 31 Nếu tôi làm chứng về chính mình, thì lời chứng của tôi không thật. 32 Có Đấng khác làm chứng về tôi, và tôi biết : lời Người làm chứng về tôi là lời chứng thật. 33 Chính các ông đã cử người đến gặp ông Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật. 34 Phần tôi, tôi không cần lời chứng của một phàm nhân, nhưng tôi nói ra những điều này để các ông được cứu độ. 35 Ông Gio-an là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian. 36 Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an : đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành ; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi. 37 Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các ông đã không bao giờ nghe tiếng Người, cũng chẳng bao giờ thấy tôn nhan Người. 38 Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến. 39 Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi. 40 Các ông không muốn đến cùng tôi để được sự sống.
      41 Tôi không cần người đời tôn vinh. 42 Nhưng tôi biết : các ông không có lòng yêu mến Thiên Chúa. 43 Tôi đã đến nhân danh Cha tôi, nhưng các ông không đón nhận. Nếu có ai khác nhân danh mình mà đến, thì các ông lại đón nhận. 44 Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được ?
     45 Các ông đừng tưởng là tôi sẽ tố cáo các ông với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ông chính là ông Mô-sê, người mà các ông tin cậy. 46 Vì nếu các ông tin ông Mô-sê, thì hẳn các ông cũng tin tôi, bởi lẽ ông ấy đã viết về tôi. 47 Nhưng nếu điều ông ấy viết mà các ông không tin, thì làm sao tin được lời tôi nói ?"

(Nhóm Phiên dịch CGKPV)

     Bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục nói về sứ vụ của Ngài, với những lời chứng cụ thể và phê phán thái độ của người Do thái khi họ cứng lòng, không tin vào những lời chứng ấy.

     Trước hết Đức Giêsu nói đến lời chứng của Gioan Tẩy giả. Gioan là ngọn đèn làm chứng về ánh sáng, về Đức Giêsu. Người Do thái tin ông là một ngôn sứ, xếp hàng đến lãnh nhận phép rửa của ông, nhưng lại không đón nhận lời chứng của ông về Đức Giêsu.

     Lời chứng thứ hai chính là những việc Đức Giêsu đã làm: rao giảng Nước Thiên Chúa và làm nhiều phép lạ, chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân, xua đuổi ma quỷ, làm cho kẻ chết sống lại… Lẽ ra, những việc này phải là lời chứng thuyết phục cho thấy Ngài là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến cứu độ nhân loại nhưng người Do thái cũng chẳng tin. 

     Lời chứng thứ ba là lời chứng của chính Thiên Chúa Cha. Chúa Cha làm chứng cho Đức Giêsu bằng những lời của Người trong Kinh Thánh. Các kinh sư nghiên cứu Kinh Thánh để tìm sự sống đời đời, nhưng vì không yêu mến Thiên Chúa nên họ không giữ lời Người ở lại trong lòng và do vậy, họ không tin, không đón nhận Đấng được Chúa Cha sai đến nhân danh Người. 

     Những lời chứng trên đây đã trở nên vô ích đối với những kẻ không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Không yêu mến Thiên Chúa nên họ không tìm vinh quang xuất phát từ Thiên Chúa mà chỉ tôn vinh lẫn nhau. 

    Thật đau lòng vì sự tự mãn của giới lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ. Họ không tin và sợ dân chúng tin theo Đức Giêsu, họ đã sỉ nhục và tìm cách giết chết con Thiên Chúa.

     Thái độ ấy có giống với thái độ của đa số nhân loại ngày nay, sau gần hai ngàn năm vẫn không tin vào Đức Kitô? Thái độ ấy có phải là thái độ của chính chúng ta hôm nay khi đứng trước những đau khổ của nhân loại do nghèo đói, chiến tranh, dịch bệnh và nhất là do sự tàn độc của một nhóm người trong cách đối xử với đồng loại, khiến chúng ta hoài nghi về Đấng Hiện Hữu?

    Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và lòng yêu mến Thiên Chúa cho chúng con để chúng con vững tin vào sự quan phòng và lòng thương xót của Thiên Chúa, can đảm sống đức tin giữa lòng thế giới tục hoá ngày nay. Amen.