Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Chạnh lòng thương

     Người đầu tiên khám phá ra vi khuẩn cùi dưới ống kính hiển vi là Bác Sĩ Armauer Hansen, người Na-Uy, năm 1873. Từ ngày vi trùng cùi được phát hiện, xã hội con người đã thay đổi rất nhiều trong việc chữa trị và đối xử với người cùi. 

     Bệnh cùi đã tác hại và gây ra khổ đau cho rất nhiều người, đặc biệt các vùng trong miền nhiệt đới. Trong những thập niên của thế kỷ 20 người ta đã dùng đậu Chaulmoogra để trị bệnh cùi, nhưng cách trị bệnh đau đớn này chỉ có hiệu quả cho một số ít người, và không có hiệu quả lâu dài. 


     Trại cùi "Carville" thuộc Tiểu Bang Louisiana, nước Mỹ đã dùng thuốc Promin tiêm cho bệnh nhân, nhưng phương pháp này cũng rất đau đớn và phải tiêm đi tiêm lại nhiều lần.

     Vào thập niên 1950 Bác sĩ R. G. Cochrane chế ra thuốc Dapsone nhưng vi trùng cùi lại "lờn thuốc". 

     Cuối cùng thuốc thử trên đảo Maita trong thập niên 1970 đã đem lại nhiều kết quả hữu hiệu. Liều thuốc này là một tổ hợp thuốc (gọi là MDT) gồm ba loại thuốc Dapsone, Rifampicin và Clofazimine. Bệnh nhân phải dùng liều thuốc này từ sáu tháng đến một năm hay là phải lâu hơn nữa mới khỏi bệnh.

     Bệnh cùi lây trong trường hợp sống chung đụng một thời gian dài với người đang mang bệnh. Thường thì 95% người có sức khoẻ bình thường có sức đề kháng mạnh chống lại vi trùng cùi. Họ không bị lây ngay cả đến việc giao tiếp hằng ngày với bệnh nhân.

     Khi người bệnh uống thuốc vào thì hầu hết các vi trùng trong người bị chết ngay trong vài ngày đầu, và sau hai tuần, thường thì người cùi không còn lây nữa. Ðể diệt trừ bệnh phong cùi, ngày nay bệnh nhân không cần thiết phải bị tách riêng ra một nơi, khỏi xã hội, làng xóm, khỏi những người thân trong gia đình.

     Bệnh cùi không lây qua sự giao hợp giữa vợ chồng hay di tryền cho con cái qua việc sanh sản. Những người cùng chung trong một gia đình với người bệnh không cần thiết phải uống thuốc trị bệnh phong cùi, nhưng nên đi khám và theo sự chỉ dẫn của bác sĩ chuyên môn.


http://www.damientheleper.org/VNLeprosy.aspx
      Mc 1,40-45
 

     40 Có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng : "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch." 41 Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo : "Tôi muốn, anh sạch đi !" 42 Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch. 43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, 44 và bảo anh : "Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết." 45 Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Người không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.

     Trong xã hội Do Thái thời Đức Giêsu, phong cùi được xem là một chứng bệnh khủng khiếp, nên những bệnh nhân phong cùi bị xem là ô uế, không được giao thiệp với mọi người, phải ở riêng tách biệt với cộng đồng và đi đến đâu cũng phải hô to để người ta biết mà tránh. Như vậy, họ phải chịu sự đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần.

     Bài Tin mừng kể chuyện Đức Giêsu chữa lành cho một người phong cùi. Vì lòng thương xót, Ngài không tránh xa anh, cũng không xua đuổi anh. Ngược lại, Ngài chạnh lòng thương, đưa tay đụng đến anh, dù đó là điều mà luật lệ Do Thái giáo nghiêm cấm. Nhờ vậy, anh đã được lành sạch.

     Trong xã hội chúng ta đang sống hôm nay, có biết bao người còn đang phải sống trong những tình cảnh đớn đau về thể xác vì bệnh tật, vì bạo lực; buồn khổ về tinh thần vì những gánh nặng của cuộc đời…

     Lạy Chúa, xin cho chúng con cũng biết “chạnh lòng thương” như Chúa, dám “giơ tay đụng vào” những cuộc đời buồn đau, khốn khó bị bỏ quên, bị xa lánh đang sống quanh chúng con. Amen.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét